Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng bạch tuột, mực, ngao của Việt Nam sang châu Âu, giai đoạn 2016-202

Ngày đăng: 16/08/2021

Bên cạnh cá và tôm là 02 nhóm sản phẩm chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào châu Âu (EU) và cũng là mặt hàng có tốc độ phát triển cao tại thị trường EU, thì các mặt hàng thủy sản khác như bạch tuột, mực, ngao cũng được đánh giá là tốt với lượng tiêu dùng có xu hướng tăng.

Theo số liệu được UN Comtrade công bố, kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng thủy sản khác của Việt Nam với mã HS 030741 - Mực nang và mực ống sống, tươi hoặc ướp lạnh, HS 030742 - Mực nang và mực ống đông lạnh, HS 030751 - Bạch tuộc sống, tươi hoặc ướp lạnh, HS 030752 - Bạch tuộc đông lạnh, HS 030771 - Nghêu, sò sống, tươi hoặc ướp lạnh, HS 030772 - Nghêu, sò đông lạnh, hầu như tăng liên tục từ năm 2016-2019, sau đó giảm tới cuối chu kỳ nghiên cứu (năm 2020).

Thủy sản thân mềm nói chung chiếm số lượng khá khiêm tốn trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU vào năm 2016 với khoảng 62 tấn, tương đương khoảng 305,7 nghìn USD, giá trị bình quân khoảng 4,9 USD/kg. Tuy nhiên, mặt hàng này tăng vượt trội vào 3 năm sau đó, đỉnh điểm là năm 2019 đạt khoảng 4.218 tấn, thu về khoảng 19.034 nghìn USD, bình quân 4,5 USD/kg. Để đạt được điều này là nhờ sự nỗ lực không ngừng của các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, cũng như sức mạnh của các Hiệp định Thương mại Tự do như EVFTA mang lại. Đến 2020, khối lượng xuất khẩu các mặt hàng trên giảm hơn 40%, chỉ còn khoảng 1.836 tấn, tương đương 7.985 nghìn USD. Năm 2020 là năm khó khăn cho việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam do phải đối mặt với nhiều thách thức về tình hình dịch Covid-19 đang bùng phát tại các quốc gia EU, kênh phân phối sản phẩm thủy sản bị gãy khúc, gián đoạn ở nhiều thị trường xuất khẩu; cảnh báo "Thẻ vàng" của Ủy ban Châu Âu cũng như các rào cản mới tiếp tục tác động xấu đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu thủy sản.

Khi phân tích cụ thể từng mặt hàng trong nhóm này, có thể thấy Mực tươi, sống hoặc đông lạnh là mặt hàng chiếm đa số. Theo đó, khối lượng xuất khẩu chiếm khoảng 60 tấn, tương đương với khoảng 298 nghìn USD, bình quân 4,97 USD/kg vào năm 2016. Các năm sau đó, kim ngạch xuất khẩu mực nói chung giảm, và chạm đáy vào năm 2020 với khối lượng xuất khẩu chỉ còn 2,6 tấn, tương đương 13,3 nghìn USD, chia ra bình quân khoảng 5,1 USD/kg.


Trái ngược với nhóm mặt hàng mực, thì nghêu, sò và bạch tuột cho thấy xu hướng ngược lại. Nhóm này chiếm thị phần rất ít trong kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủy sản khác trừ tôm, cá. Đối với mặt hàng bạch tuộc thì từ con số 0,22 tấn vào năm 2016, tương đương với 1,9 nghìn USD, giá trị bình quân 8,7 USD/kg, các năm sau đó hầu như tăng liên tục và cao nhất vào năm 2019 với 4.106 tấn, tương đương 18.791 nghìn USD, bình quân là 4,6 USD/kg. Còn mặt hàng nghêu, sò, khối lượng xuất khẩu chỉ đạt khoảng 1,9 tấn vào năm 2016, tương tương với khoảng 5,6 nghìn USD, bình quân là 2,9 USD/kg, thì tăng mạnh vào các năm sau, đặc biệt, đến năm 2019, khối lượng xuất khẩu mặt hàng này là 107,4 tấn (tăng khoảng 56 lần so với năm đầu tiên nghiên cứu), tương đương khoảng 299 nghìn USD, giá trị bình quân 2,8 USD/kg. Vào năm 2020, do những khó khăn và thách thức đã phân tích, hai mặt hàng bạch tuột và nghêu, sò giảm lần lượt còn 1.786,4 tấn (giảm khoảng 57% so với năm 2019), giá trị thu về chỉ còn 7.867,7 nghìn USD và 49,6 tấn (giảm khoảng 54% so với năm 2019), giá trị đạt khoảng 104 nghìn USD. Dịch bệnh ảnh hưởng đến thu nhập của người dân, thu nhập người dân thấp hơn, người dân sẽ chỉ tiêu thụ các sản phẩm giá phải chăng, hạn chế tiêu dùng các mặt hàng có giá cao hơn như các sản phẩm mực, bạch tuộc cao cấp./.

Nguồn: comtrade.un.org

Phòng Xúc tiến tổng hợp